Tuesday, 09/08/2022 - 05:09|
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2019-2020

TRAO ĐỔI MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC TRONG ĐỌC VĂN BẢN NGỮ VĂN CHO HS THCS.

Môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng, chiếm thời lượng lớn trong chương trình học của của học sinh. Môn Ngữ văn góp phần giáo dục tư tưởng và bồi dưỡng hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12. Ở tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông có tên là Ngữ văn. Là một môn học vừa có tính công cụ, vừa có tính thẩm mỹ - nhân văn, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh phát triển những phẩm chất cao đẹp; có những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú; có tâm hồn nhân hậu và lối sống nhân ái, vị tha.

Tài liệu đính kèm: Tải về

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN VĂN TRONG TRƯỜNG THCS

Môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng, chiếm thời lượng lớn trong chương trình học của của học sinh. Môn Ngữ văn góp phần giáo dục tư tưởng và bồi dưỡng hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12. Ở tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông có tên là Ngữ văn. Là một môn học vừa có tính công cụ, vừa có tính thẩm mỹ - nhân văn, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh phát triển những phẩm chất cao đẹp; có những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú; có tâm hồn nhân hậu và lối sống nhân ái, vị tha. Thông qua môn học này học sinh được hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực môn học như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ để sống và làm việc hiệu quả, để học tập tốt các môn học khác, cũng như để học suốt đời.

Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về văn học và tiếng Việt, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học.

Các yêu cầu cần đạt tập trung vào bốn kỹ năng lớn: đọc,viết, nói và nghe. Đọc bao gồm yêu cầu đọc đúng và đọc hiểu. Yêu cầu về đọc hiểu bao gồm các yêu cầu hiểu văn bản ( trong đó có cả đọc thẩm mỹ, cảm thụ, thưởng thức và đánh giá) và hiểu chính mình (người đọc). Viết không chỉ yêu cầu học sinh biết viết chữ, viết câu, viết đoạn mà còn tạo ra được các kiểu loại văn bản, trước hết là các kiểu loại văn bản thông dụng, sau đó là một số kiểu loại văn bản phức tạp hơn. Nói nghe căn cứ vào nội dung của đọc và viết để luyện tập cho học sinh trình bày, nói và nghe tự tin, có hiệu quả; từ nói đúng đến nói hay. Vì thế giáo viên dạy bộ môn này cần phải thấy rõ và đánh giá đúng được vị trí, tầm quan trọng của môn học và làm thế nào để giảng dạy cho học sinh hứng thú và yêu thích môn học.

II. KHÁI NIỆM VỀ ĐỌC TRONG ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1.. Hoạt động đọc trong phân môn Ngữ văn

Đọc là một dạng khám phá sáng tạo của con người, là con đường hướng tới việc thiết lập những quan hệ tư duy mới. Nói đọc là nói tới một vấn đề có tính nguyên lí. Giữa đọc và hiểu vừa có mối quân hệ nhân quả, (đọc để hiểu) đồng thời cũng có mối quan hệ biện chứng: hiểu để đọc tốt hơn.

Từ mục đích lấy việc đọc - hiểu văn bản làm phương pháp dạy và học trong nhà trường nên chương trình phần văn không xếp theo tiến trình lịch sử văn học, mà sắp xếp theo thể loại. Vì vậy, hướng dẫn HS đọc tác phẩm văn chương theo thể loại là một hướng đi có nhiều ưu thế để rèn kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích và đánh giá một cách hợp lí, sáng tạo.

2. Nhiệm vụ của hoạt động đọc văn

- Đọc văn để xử lí văn bản nhằm đi tới nội dung nghệ thuật tác phẩm. Đó còn là quá trình phân tích văn bản, làm chủ cấu trúc của văn bản. Người đọc phải nhận diện từ văn bản những đoạn miêu tả, tường thuật, kể chuyện, những đoạn trữ tình, triết lí, chính luận, nhận diện khổ thơ, vần luật thơ. Người đọc phải hình dung ra chủ thể của văn bản, đang bao trùm cái nhìn, tình cảm, tâm trạng của mình lên tác phẩm, hình dung ra thế giới trong tác phẩm rất phong phú, thế giới đó đang cất lên tiếng nói của mình, thể hiện mình.

- Đọc văn để theo dõi kết cấu, theo dõi mạch phát triển của tác phẩm, mạch vận động của cảm xúc, tìm ra logic của các phần trong tác phẩm. Kết cấu tác phẩm là thể hiện ý định nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn.

- Đọc văn để hình dung, tưởng tượng và tiếp nhận nội dung thông tin ẩn chứa trong văn bản. Đọc văn diễn ra hai quá trình song song: đó là tri giác văn bản, tạo âm thanh, ngữ điệu, giọng điệu cho văn bản và hình dung ra nội dung thông tin chứa trong văn bản.

4. Các hành động và thao tác thuộc hoạt động đọc văn

a, Hành động xác định vai trò chủ thể cho học sinh

Có bốn khả năng giao nhiệm vụ cho học sinh tùy theo mục đích đọc như sau:

- Đóng vai như tác giả của tác phẩm, như người theo dõi, chứng kiến, biết toàn bộ sự việc diễn ra trong tác phẩm.

- Đóng vai là bạn đọc lí tưởng của tác phẩm, đọc để cảm nhận, hiểu, đọc để nghiền ngẫm, thưởng thức, đọc để tìm cảm giác ấn tượng, tự cắt nghĩa, tự lí giải các chi tiết.

- Đóng vai như một người kể chuyện. Dựa vào văn bản tác phẩm truyền đạt nội dung cho người nghe.

- Đóng vai như một người biểu diễn. Đọc diễn cảm, đọc theo giọng nghệ thuật, đọc nghệ thuật, đọc theo vai nhân vật.

b, Hành động đọc tiếp nhận

- Đọc tác phẩm để:

+ Nhận biết tác phẩm có bao nhiêu nhân vật, lập sơ đồ quan hệ giữa các nhân vật và sơ đồ phát triển của nhân vật chính.

+ Biết nhân vật chính được kể từ khi nào đến khi nào. Trong khoảng thời gian, không gian ấy, có bao nhiêu sự kiện xảy ra đối với nhân vật.

+ Hình dung ra nhân vật người kể chuyện, rồi miêu tả lại.

+ Nhận diện văn bản thơ: Thể thơ, gieo vần, tiết tấu, nhịp, giọng điệu, kết cấu, chủ thể trữ tình, thời gian, không gian. Chủ yếu miêu tả hay thuật sự việc. Nội dung khách quan có thể nhìn thấy. Nội dung chủ quan – thuộc về tác giả, có thể hình dung ra.

C, Các dạng đọc

- Đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, Đọc to cho người khác nghe, đọc nhỏ cho riêng mình, đọc thầm để tưởng tưởng, hình dung, chuyển nội dung chứa trong văn bản vào đầu.

- Đọc từng phần, đọc cả bài, đọc trước khi tìm hiểu bài để có ấn tượng chung., đọc trong quá trình phân tích (đọc định hướng) đọc sau phân tích, đọc bộc lộ, đọc diễn cảm, đọc nghệ thuật.

II. NỘI DUNG THỰC HIỆN VIỆC ÁP DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC TRONG ĐỌC – HIỂU KHI GIẢNG DẠY MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THCS NGỌC VÂN

  1. Các phương pháp thực hiện

Trong dạy học văn học, đọc là một khâu quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn bản. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng đọc gắn liền với tìm hiểu, khám phá văn bản là một việc làm hết sức cấp bách. Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu tài liệu, bản thân tôi đã rút ra được những giải pháp để rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như sau:

- Thứ nhất: Người giáo viên đứng lớp phải nhận thức rõ tính cấp thiết của vấn đề, việc rèn luyện nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh nhằm góp phần rèn luyện một trong bốn kỹ năng cơ bản của học sinh đã đề ra trong mục tiêu môn học, đồng thời là một hoạt động thiết thực để nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ Đọc – hiểu môn Ngữ văn.

Giải pháp trên đây được thực hiện thông qua các hoạt động tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên và các buổi sinh hoạt chuyên môn ở tổ, sinh hoạt chuyên đề, hội giảng.... nhằm giúp mỗi giáo viên dạy Ngữ Văn ngày càng nâng cao nhận thức về vấn đề.

- Thứ hai: Giáo dục cho học sinh ý thức về vai trò, tác dụng của việc đọc trong quá trình học tập bộ môn Ngữ văn nói riêng và các hoạt động học tập giao tiếp nói chung, từ đó đặt ra những yêu cầu rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh.

+ Rèn luyện trong giờ học Ngữ văn trên lớp có sự hỗ trợ, hướng dẫn của thầy giáo và các bạn.

+ Tự rèn luyện kỹ năng đọc ngoài giờ học.

- Thứ ba: Lập hồ sơ theo dõi kết quả rèn luyện của học sinh để có sự điều chỉnh, hỗ trợ kịp thời.

- Thứ tư: Tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh trong giờ Đọc – hiểu văn bản rèn kĩ năng.

Trên đây là các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy văn. Tuy nhiên tùy theo từng yêu cầu, từng kiểu bài mà áp dụng các giải pháp phù hợp.

  1. Khảo nghiệm qua văn bản: TÔI ĐI HỌC (Ngữ văn 8- tập 1) tiết 1.

Cách đọc:

Văn bản “Tôi đi học” là một văn bản biểu cảm xen tự sự, thuộc thể loại truyện ngắn nhưng sức hấp dẫn của nó không thể hiện qua các sự kiện, xung đột nổi bật. Người đọc sở dĩ cảm nhận được cái dư vị ngọt ngào, man mác trong tâm trạng của một cậu bé ngày đầu tiên đến trường là nhờ ngòi bút trữ tình, giàu chất thơ của tác giả. Dấu hiệu nhận biết là các từ ngữ giàu hình ảnh và biểu cảm, các câu văn dài, phù hợp với miêu tả tâm trạng nhân vật. Vì vậy, khi đọc, cần chú ý:

- Theo dòng hồi tưởng của nhân vật, những cảm xúc, tâm trạng của cậu bé được diễn tả rất sinh động: sự hồi hộp, băn khoăn lo lắng, thậm chí có cả tiếng khóc, đôi chút tiếc nuối vẩn vơ, vừa náo nức vừa bỡ ngỡ,...

- Đọc bài văn bằng giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, chú ý những đoạn diễn tả các tâm trạng khác nhau: khi thì háo hức, khi thì hồi hộp, lúc lo âu của cậu bé cũng như của các bạn nhỏ. Những câu đối thoại của "ông đốc" cần đọc chậm rãi, khoan thai, thể hiện sự ân cần, niềm nở của những người lớn khi đón các em vào trường.

Ví dụ như khi đọc đoạn văn từ “Sau hồi trống … trong các lớp” nói về tâm trạng và cảm giác lo sợ, rụt rè của các cậu học trò khi nghe tiếng trống vào lớp các em đọc cần nhấn vào những từ ngữ như “chơ vơ”, “vụng về”, “lúng túng”, dềnh dàng”, “run run”.

Hay đoạn văn nói về tâm trạng và cảm giác hồi hộp, lo sợ của tôi khi nghe gọi tên, rời mẹ vào lớp từ “ Ông đốc…chút nào hết” đọc cần nhấn vào cụm từ “ Quả tim như ngừng đập”, các từ “ lúng túng”, “ nức nở”, “thút thít” “ ngập ngừng”.

- Sau khi hướng dẫn học sinh đọc xong giáo viên đọc mẫu từ đầu đến “ lướt ngang trên ngọn núi”

- Gọi ba học sinh nối tiếp nhau đọc tiếp đến hết.

+ “ Trước sân trường… theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp”.

+ “ Ông đốc … lại được nghỉ cả ngày nữa”.

+ Phần còn lại

Từng học sinh đọc kết thúc phần của mình giáo viên nhận xét để kịp thời uốn nắn cách đọc.

 

 

 

 

Tác giả: Dương Thị Hòe
Nguồn:Trường THCS Ngọc Vân Copy link
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 20
Tháng 08 : 181
Năm 2022 : 7.296